Sự kiện nóng: Sốt xuất huyêt

Điều trị bảo tồn tuyến vú cho bệnh nhân ung thư vú

30/04/2021
Điều trị bảo tồn tuyến vú cho bệnh nhân ung thư vú

Ung thư vú là căn bệnh có tỷ lệ điều trị thành công có thể lên đến hơn 80%. Nếu phát hiện và điều trị kịp thời ở giai đoạn sớm thì gần như không cần phải đoạn nhũ. Bệnh nhân bị ung thư vú được cắt khối bướu và một phần mô tuyến vú xung quanh, kết hợp xạ trị để loại bỏ tế bào ung thư, giúp giữ lại bầu ngực.

1. Tìm hiểu về Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú

Điều trị bảo tồn vú trong ung thư vú là phẫu thuật ra đời từ những năm 1980 do bác sĩ FISHER, VERONESI thực hiện. Phương pháp này đến nay đã được áp dụng rộng rãi tại các nước tiên tiến.

Bờ phẫu thuật an toàn là yếu tố quan trọng nhất của phẫu thuật bảo tồn, do đó cần thiết phải lấy thêm mô lành xung quanh không còn u. Việc kiểm tra còn tế bào u hay không sẽ được thực hiện qua cắt lạnh ngay trong lúc mổ và gửi cho bác sĩ Giải phẫu bệnh đọc kết quả tức thì. Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú thường được thực hiện cùng với nạo hạch nách.

Tùy theo độ rộng của phẫu thuật, mô tuyến vú được lấy đi nhiều hay ít mà ta có cần đặt túi độn hay không, hoặc là độn bra giả. Cơ thể bạn cũng sẽ tạo ra mô xơ sẹo để lấp đầy khuyết hổng tổn thương, hình ảnh sẹo khác biệt mô thường sẽ quan sát thấy được trên nhũ ảnh sau này. Sẹo trên da trong trường hợp lành tốt sẽ mờ nhạt dần. Bác sĩ của bạn sẽ hướng dẫn cách chăm sóc để Sẹo lành tốt và Thẩm mỹ nhất

2. Ai có thể được điều trị bằng phẫu thuật bảo tồn vú?

Không phải tất cả mọi phụ nữ ung thư vú đều phù hợp với điều trị bảo tồn tuyến vú. Điều trị bảo tồn tuyến vú chỉ dành cho những phụ nữ bệnh ung thư vú giai đoạn sớm, khối u chưa lan ra ngoài tuyến vú, và chỉ có di căn hạch ở nách. Lý do là vì phẫu thuật chỉ có thể thực hiện an toàn khi lấy bỏ nguyên khối gồm u và mô vú bình thường xung quanh. Mô tuyến vú xung quanh khối u phải được kiểm tra để đảm bảo rằng hoàn toàn không còn tế bào ung thư nhằm giảm nguy cơ tái phát. Chúng tôi cân nhắc việc điều trị bảo tồn vú dựa trên những yếu tố sau: Tuổi, Tình trạng hạch di căn, Độ mô học của u, Độ biệt hóa nhân tế bào u, Tình trạng ER, PR, Ki 67, sự Xâm lấn khoang lympho mạch máu, Mô học dạng comedo hay không.

Việc điều trị bảo tồn tuyến vú không thể thực hiện khi:

  • Ung thư đa ổ
  • Khối u lan đến nhiều phần (các góc tư) vú
  • Ung thư trong ống tuyến lan tỏa
  • Khối u lan đến phức hợp quầng vú, núm vú (không đảm bảo tính thẩm mỹ khi bảo tồn)

Do sau mổ bắt buộc phải điều trị tiếp theo bằng xạ trị để giảm nguy cơ tái phát, phẫu thuật bảo tồn cũng không thực hiện được ở những phụ nữ:

  • Bệnh lý mô liên kết và da như bệnh Xơ cứng bì (scleroderma), do tác dụng phụ sau xạ sẽ rất nặng nề
  • Tiền căn điều trị xạ trị vào thành ngực trước đó do một bệnh lý khác
  • Không đồng ý xạ trị sau mổ

3. Những vấn đề có thể gặp phải sau mổ bảo tồn tuyến vú

Sau mổ bạn sẽ nằm viện khoảng 1-3 ngày tùy theo tình trạng hồi phục sau mổ, hồi phục sau mổ nhanh và nhẹ nhàng hơn phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú. Tuy nhiên, bạn cũng có thể gặp một số tình huống:

  • Phù và thâm tím chỗ vết mổ trong vài ngày
  • Tụ dịch quanh vùng phẫu thuật, do đó cần dẫn lưu vết mổ
  • Nhiễm trùng vết mổ tại mô tuyến vú hoặc vùng nạo hạch nách
  • Chảy máu vết mổ rất hiếm gặp
  • Một số biến chứng do vấn đề nạo hạch nách đi kèm, tương tự như trong phẫu thuật cắt tuyến vú nạo hạch nách

4. Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú hay cắt toàn bộ tuyến vú? 

Khi bạn có chỉ định phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, bạn cũng có thể có lựa chọn thứ 2 là phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú. Đôi khi việc lựa chọn này rất khó để quyết định. Nhiều người bệnh có cảm giác cắt toàn bộ tuyến vú sẽ an toàn hơn, tuy nhiên nhiều nghiên cứu ở các nước có nền y học tiến bộ đã cho thấy không có sự khác biệt nào về mức độ an toàn giữa 2 phương pháp này. Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú kết hợp với xạ trị sau mổ cho kết quả an toàn tương tự như phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú.

5. Thuận lợi và bất lợi của điều trị bảo tồn tuyến vú

  • Lợi điểm rõ ràng nhất là bảo đảm tính thẩm mỹ, người bệnh luôn cảm thấy hạnh phúc và hài lòng với cơ thể mình hơn nhiều so với việc phải cắt bỏ toàn bộ mô tuyến vú. Họ không phải dùng độn ngực trong sinh hoạt hàng ngày, đời sống Tình dục cũng không bị ảnh hưởng sau điều trị.

  • Bất lợi của việc điều trị bảo tồn là bạn cần phải trải qua quá trình trị liệu tiếp theo bằng tia xạ. Việc xạ trị là rất cần thiết để ngăn chặn u tái phát và làm tăng thời gian sống. Tuy nhiên bạn cần điều trị mỗi ngày trong nhiều ngày, thường tốn thời gian khoảng 6-7 tuần, xạ trị cũng gây ra một số tác dụng phụ.
  • Nếu sau phẫu thuật, bờ cắt không chắc chắn không còn tế bào u, bạn sẽ phải phẫu thuật thêm lần nữa, đôi khi có thể phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú ở lần phẫu thuật thứ 2.

6. Trường hợp nào có thể hoặc không thể bảo tồn tuyến vú

Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú được chỉ định cho bệnh nhân được chẩn đoán ung thư vú dựa vào khám lâm sàng, phim chụp X-quang tuyến vú, xét nghiệm tế bào học. Bệnh nhân có chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học, kích thước khối u < 3cm, có một ổ tổn thương, hạch vùng chưa di căn hoặc di căn số lượng ít, chưa có di căn xa, canxi hóa khu trú trên phim chụp X-quang tuyến vú. Phụ nữ trẻ tuổi cũng được khuyến khích nên phẫu thuật bảo tồn tuyến vú để đảm bảo tính thẩm mỹ, sự tự tin.

Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú chống chỉ định tuyệt đối cho các trường hợp có nhiều u (đa ổ), canxi hóa lan tỏa trên phim chụp X-quang tuyến vú hoặc người đang mang thai (không thể xạ trị khi đang mang thai). Phương pháp này chống chỉ định tương đối với các trường hợp u vú lớn ở phụ nữ có tuyến vú nhỏ, những người có tiền sử bệnh collagen mạch máu vì có thể gặp biến chứng xơ hóa và hoại tử mô sau phẫu thuật.

Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú là phương pháp mang lại nhiều lợi ích về mặt thẩm mỹ và tâm lý cho bệnh nhân. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ được chỉ định cho những bệnh nhân phát hiện ung thư vú từ giai đoạn sớm. Vì vậy, phụ nữ nên định kỳ đi kiểm tra tầm soát ung thư vú để được phát hiện bệnh sớm và có phương pháp điều trị kịp thời, hiệu quả. Phát hiện sớm làm tăng khả năng bảo tồn vú, giữ được vẻ đẹp thẩm mỹ của người phụ nữ. Đồng thời, việc điều trị bệnh ở giai đoạn sớm cũng đạt hiệu quả cao hơn, ít biến chứng và ngăn ung thư tiến triển, di căn hoặc tái phát.