Sự kiện nóng: Sốt xuất huyêt

Ung thư vú: Cập nhật mới liên quan đến điều trị vô sinh

16/04/2021
Ung thư vú: Cập nhật mới liên quan đến điều trị vô sinh

Ung thư vú là một loại ung thư rất phổ biến trên toàn thế giới. Đây cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ, với tần suất là 1 trong 8 người phụ nữ. Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc ung thư vú ngày càng tăng và hiện đang là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ.

1. Bệnh ung thư vú là gì?

Ung thư vú là bệnh lý phổ biến ở phụ nữ chỉ xếp sau ung thư da, xuất hiện khi các tế bào u ác tính tấn công mô ở 1 hoặc 2 bên vú của người bệnh, khi bệnh phát triển, các tế bào bất thường sẽ không ngừng phát triển và rất khó kiểm soát, nếu không được điều trị kịp thời thì khối u có thể lan sang bộ phận khác của cơ thể.

Bất kỳ đối tượng nào cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, những dấu hiệu đầu tiên cảnh báo bệnh ung thư vú có thể chỉ là những hạch nhỏ ở nách, hoặc ở ngực, một số dấu hiệu phổ biến khác có thể tìm thấy ở người bệnh ung thư vú bao gồm:

  • Sưng ở vú
  • Các đốm ở da của vú
  • Đau ở vú hoặc núm vú
  • Thay vì nhô ra thì núm vú quay vào trong
  • Da trên vú hoặc núm vú màu đỏ, bong tróc, có vảy hoặc dày hơn bình thường
  • Xả hoặc chảy máu núm vú

2. Yếu tố nguy cơ làm tăng ung thư vú

Một số yếu tố được biết đến như là yếu tố nguy cơ của UTV bao gồm:

  • Tuổi: nguy cơ UTV tăng lên ở các phụ nữ nhiều tuổi. Việc tầm soát UTV nên được tiến hành ở độ tuổi từ 40 trở lên.
  • Giới: nguy cơ mắc UTV ở nữ giới cao gấp 100 lần nam giới.
  • Tiền sử gia đình: phụ nữ có nguy cơ mắc UTV cao hơn khi gia đình có người thân mắc UTV hoặc ung thư buồng trứng, có người thân mắc UTV dưới 50 tuổi hoặc có đột biến gen BRCA1, BRCA2.
  • Tình trạng kinh nguyệt: các yếu tố liên quan đến tăng số lượng kì kinh như mang thai sau 30 tuổi, có kinh sớm trước 13 tuổi, mãn kinh muộn sau 50 tuổi hoặc không cho con bú,... đều làm tăng nguy cơ mắc UTV.
  • Một số yếu tố khác như: thừa cân, béo phì, sử dụng hormon ngoại sinh, người có tiền sử mắc các bệnh vú lành tính,...

3. Triệu chứng ung thư vú

  • Đau vùng vú: cảm giác đau của người bệnh có thể là đau dấm dứt không thường xuyên, thi thoảng đau nhói theo kiểu kim châm.
  • Chảy dịch đầu vú: một số bệnh nhân có biểu hiện chảy dịch đầu núm vú, có thể chảy dịch lẫn máu.
  • Người bệnh cũng có thể tự sờ thấy khôi u vùng vú hoặc hạch vùng hố nách.
  • Đối với các khối u vú giai đoạn muộn có thế thấy các triệu chứng do khối u vú xâm lấn gây lở loét, hoại tử ra ngoài da, gây chảy dịch, mùi hôi thối.
  • Triệu chứng của các cơ quan đã di căn: nhiều người bệnh đến khám với các triệu chứng của bệnh giai đoạn muộn, đã di căn đến các cơ quan khác trong cơ thể như: di căn xương gây đau xương, di căn não gây đau đầu, buồn nôn, chóng mặt,...

Ngoài ra, người bệnh có thể có các triệu chứng toàn thân như mệt mỏi, chán ăn, ăn kém, gầy sút cân, đôi khi biểu hiện sốt.

4. Cập nhật mới liên quan đến điều trị vô sinh

Do hiệu quả của điều trị ung thư vú, sự suy giảm dự trữ nang noãn sớm xảy ra trên một phần ba số bệnh nhân kết quả dẫn đến vô sinh vĩnh viễn. Để ngăn ngừa Vô sinh liên quan đến điều trị ung thư (CTRI), hiện này có rất nhiều phương pháp có thể được lựa chọn. Bên cạnh việc ức chế buồng trứng bằng chất đồng vận hormone giải phóng Gonadotropin (GnRHa), các phương pháp khác bao gồm trữ đông tế bào trứng hoặc phôi cũng như bảo quản lạnh một phần vỏ buồng trứng hiện đang được áp dụng trước khi tiến hành điều trị chống ung thư.

Những kỹ thuật hiện đại này có vẻ thành công về mặt tỷ lệ Mang thai mặc dù người ta vẫn quan ngại về sự an toàn của chúng vì người ta vẫn còn đang tranh cãi về việc quá trình kích thích nội tiết tố để thúc đẩy quá trình tạo nang có liên quan đến nguy cơ gây ung thư ở những bệnh nhân mang khối u nhạy cảm với Nội tiết tố như ung thư vú, trong khi đó việc cấy ghép lại phần vỏ buồng trứng đông lạnh thường dẫn đến số lượng nang trứng được tái sinh thấp bao gồm cả việc không rõ chất lượng tế bào trứng. Các nghiên cứu gần đây về tế bào gốc buồng trứng (OSC) cho thấy khả năng ứng dụng của chúng trong tương lai trong điều trị ung thư liên quan đến chữa trị vô sinh.

Trên thực tế, các tế bào gốc OSC từ vỏ buồng trứng đã được chứng minh là có khả năng biệt hóa in vitro thành các tế bào giống tế bào trứng (OLC) và biểu hiện các dấu ấn phân tử của tế bào trứng trưởng thành. Khi công nghệ OSC được tối ưu hóa và chuyển sang ứng dụng trên lâm sàng, các tế bào trứng có nguồn gốc từ các tế bào này sẽ được đánh giá phân tử trước khi thụ tinh để đảm bảo chất lượng phôi tốt nhất bằng một quy trình an toàn nhằm điều trị ung thư liên quan đến chữa trị vô sinh ở những phụ nữ trẻ bị mắc bệnh ung thư vú.