Sự kiện nóng: Sốt xuất huyêt

Dấu hiệu, nguyên nhân và cách phòng thiếu máu khi mang thai

20/11/2020
Dấu hiệu, nguyên nhân và cách phòng thiếu máu khi mang thai

Thiếu máu khi mang thai, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoàn thiện của Não và phát triển thai nhi, tăng nguy cơ sẩy thai, Sinh non và mắc các bệnh nhiễm khuẩn.

1. Dấu hiệu nhận biết thiếu máu khi mang thai

  • Da tái xanh, yếu ớt và không khoẻ như bình thường.
  • Mệt mỏi bất thường, uể oải, không có khả năng chịu đựng như bình thường.
  • Cảm thấy khó chịu, dễ bực tức.
  • Dễ bị nhiễm bệnh.
  • Khó thở, cảm giác như leo cầu thang cao hoặc đi bộ thật nhanh mà không được nghỉ để lấy hơi.
  • Nhức đầu, xỉu. Bệnh nhân thiếu máu thường cảm thấy đau đầu.
  • Phần niêm mạc trong mi mắt dưới sẽ hồng nếu lượng hồng cầu bình thường và sẽ nhợt nhạt nếu thiếu máu.
  • Một số phụ nữ thiếu máu nặng khi mang thai thích ăn những thứ không ăn được như đất sét, cát, phấn… là vì cơ thể họ quá thiếu sắt trong khi những chất này liên quan đến quá trình hấp thu sắt và có thể giải quyết phần nào.

2. Nguyên nhân gây thiếu máu khi mang thai

  • Nồng độ huyết sắc tố trong máu ở mẹ có thể giảm rất đột ngột do nhu cầu tăng trưởng của bé.
  • Sự gia tăng thể tích máu trong thai kì cũng gây thiếu máu vì nồng độ huyết sắc tố giảm do bị pha loãng so với bình thường.
  • Chế độ ăn uống ít chất sắt. Thực đơn ăn kiêng hà khắc, hoặc chỉ ăn các loại thức ăn năng lượng thấp đều có thể dẫn đến các vấn đề liên quan đến thiếu máu.
  • Bà bầu nhẹ cân khi bắt đầu mang thai hoặc bà bầu nghén nặng sẽ có nguy cơ thiếu máu cao hơn những bà bầu khác.
  • Các loại mất máu như doạ sẩy thai, xuất huyết trước sinh hoặc các loại xuất huyết khác đều có thể là nguyên nhân của thiếu máu.
  • Nguy cơ thiếu máu cao hơn nếu mang đa thai.
  • Thời gian để nguồn sắt dự trữ tái bổ sung sẽ không đủ nếu thai kì lần này quá gần lần sảy thai trước.
  • Các bệnh lý mạn tính có liên quan đến máu cũng là nguyên nhân gây ra thiếu máu.

Thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân phổ biến nhất. Thiếu máu dinh dưỡng là thiếu máu giảm sản xuất hồng cầu do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu như thiếu vitamin B12, hoặc thiếu acid folic, nhưng thường gặp nhất là thiếu máu do thiếu sắt.

2.1. Thiếu máu do thiếu sắt

Dấu hiệu, nguyên nhân và cách phòng thiếu máu khi mang thai - ảnh 1
Sắt có trong thực phẩm nguồn động vật và thực vật như cá, ngũ cốc, hoa quả

Sắt là một vi chất quan trọng, là thành phần cấu tạo hemoglobin, myoglobin, protein, enzyme, ...có vai trò vận chuyển oxy trong máu đến với các mô trong cơ thể; kết hợp với các chất dinh dưỡng khác để giải phóng năng lượng cho sự co cơ, quá trình chuyển hóa như tổng hợp DNA, và các chức năng miễn dịch, tiêu hoá,...

Sắt có trong thực phẩm nguồn động vật như thịt, gan, cá... có giá trị sinh học cao và từ nguồn thực vật như ngũ cốc, đậu đỗ, rau quả... có giá trị sinh học thấp hơn, hấp thu kém hơn... Sắt được tăng cường hấp thu bởi vitamin C (có nhiều trong cam, chanh, ổi, kiwi, ớt đà lạt, bông cải xanh, cà chua...) trái lại bị ức chế hấp thu chất sắt bởi phytat, phosphat, canxi (có trong ngũ cốc) và polyphenol (có trong trà và một số loại rau). Sắt trong khẩu phần của người Việt Nam hiện nay chỉ đáp ứng 30-50% nhu cầu.

Nguyên nhân thiếu sắt: do không cung cấp đủ trong khẩu phần trong khi dự trữ sắt không đầy đủ (phụ nữ mang thai có nhu cầu cao hơn bình thường để tăng khối lượng máu cho người mẹ và phát triển thai nhi; trẻ sinh nhẹ cân, sinh non, suy dinh dưỡng bào thai, con của các bà mẹ thiếu máu trong thời kỳ mang thai; trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ ăn bổ sung quá sớm; trẻ giai đoạn tăng trưởng nhanh trong những năm đầu đời và tuổi dậy thì, người ăn chay, ăn kiêng, ăn ít thức ăn động vật) hoặc do tình trạng kém hấp thu (người mắc các bệnh về đường tiêu hóa như tiêu chảy kéo dài, viêm Loét dạ dày tá tràng,..) hoặc mất máu (mất sắt theo chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, nhiễm giun sán,...)

2.2. Bà bầu có nguy cơ bị thiếu máu

Biểu hiện của bệnh tùy theo mức độ thiếu máu nhẹ, vừa, hoặc nặng. Trẻ thường mệt mỏi, kém ăn, chậm lớn, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, lòng bàn tay bàn chân, móng tay, móng chân cũng nhợt nhạt. Nhịp tim nhanh, khó thở khi gắng sức. Trẻ học kém tập trung, hay ngủ gật, chỉ số thông minh thấp. Phụ nữ mang thai thường biểu hiện hoa mắt chóng mặt, nhức đầu, tim đập nhanh.

2.3. Thiếu máu do thiếu acid folic

Acid folic hay folat (vitamin B9) cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào và sự hình thành tế bào máu.

Folat có nhiều trong các loại rau lá màu xanh thẫm, trái cây họ cam, súp lơ, bông cải xanh... và thức giàu đạm như thịt, gan, trứng cá, đậu hạt,... Folat rất dễ bị thất thoát trong quá trình nấu nướng 50-90%, thậm chí không còn khi nấu ở nhiệt độ cao nhiều nước hay thời gian quá lâu.

Nguyên nhân thiếu hụt folat là do không cung cấp đủ trong khẩu phần ăn hoặc do tình trạng kém hấp thu nhất là khi các bệnh về đường tiêu hóa hoặc do nhu cầu tăng ở sinh đẻ non, Sốt rét, thiếu máu, tan máu và ảnh hưởng của một số thuốc như thuốc chống co giật, chống động kinh, chống ung thư, các thuốc làm giảm độ acid trong dạ dày gây tăng nhu cầu và sử dụng folat.

Dấu hiệu, nguyên nhân và cách phòng thiếu máu khi mang thai - ảnh 2
Folat có nhiều trong các loại rau lá màu xanh thẫm, trái cây họ cam, súp lơ, bông cải xanh... và thựcs giàu chất đạm như cá, thịt, trứng...

Biểu hiện của thiếu folat: ngoài các dấu hiệu thiếu máu, trẻ thường chán ăn, nôn, tiêu chảy, viêm miệng lưỡi, run chân tay, tăng trương lực cơ, hồi hộp, thở gấp và ngắn. Thiếu folat sớm ở phụ nữ mang thai trong những tháng đầu của thai kỳ có thể gây khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi (nứt cột sống, vô sọ, thoát vị não).

2.4. Thiếu máu do thiếu vitamin B12

Vitamin B12 tham gia vào quá trình tổng hợp DNA, sự phát triển và phân chia tế bào và quá trình myelin hóa sợi thần kinh.

Vitamin B12 chỉ có trong thức ăn nguồn động vật, dễ bị hao hụt đến hơn 50% khi chế biến nấu chín.

Nguyên nhân thiếu vitamin B12 chủ yếu là do bị các bệnh về đường tiêu hóa (tiêu chảy, phẫu thuật dạ dày - ruột) gây kém hấp thu và chế độ ăn thiếu thực phẩm nguồn gốc động vật kéo dài, ăn chay trường..

Biểu hiện của thiếu vitamin B12: ngoài các dấu hiệu thiếu máu, có thể kèm một số triệu chứng thần kinh: rối loạn cảm giác, đi lảo đảo...

3. Thiếu máu khi mang thai ảnh hưởng đến mẹ và bé như thế nào?

Tuy với một lượng rất nhỏ, được xếp vào hàng nguyên tố vi lượng, nhưng sắt lại là một trong những thành phần cơ bản tạo nên hồng cầu, tham gia vào sự vận chuyển ôxy, sự hô hấp tế bào, quá trình miễn dịch của tế bào, thúc đẩy hoạt tính của men sinh học, kích thích sự chuyển hoá của cơ thể, cần thiết cho sự phát triển thể lực cũng như phát triển hệ thần kinh trẻ em…

Thiếu máu ở phụ nữ mang thai có thể gây nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con. Mẹ bị thiếu máu dễ bị sảy thai, nhau tiền đạo, nhau bong non, cao huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, ối vỡ sớm, băng huyết sau sinh, nhiễm trùng hậu sản. Ngoài ra, nếu có xuất huyết hậu sản sẽ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng người mẹ. Trẻ sinh ra bởi những người mẹ thiếu máu cũng dễ bị thiếu máu. Bên cạnh đó, trẻ còn có khả năng bị nhẹ cân, sinh non tháng, suy thai, thời gian điều trị hồi sức kéo dài, tăng khả năng bị các bệnh sơ sinh hơn so với bình thường. Con của những bà mẹ thiếu máu giai đoạn sớm thai kỳ còn có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác. Thiếu máu có nhiều dạng khác nhau, thông thường, thiếu máu tập trung vào nhóm thiếu các chất dinh dưỡng như Sắt, Acid Folic, Vitamin B12. Thiếu mỗi chất trên lại có thể gây ra những vấn đề sức khỏe cho mẹ và bé khác nhau, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là thiếu acid folic khi mang thai, có thể gây dị tật ống thần kinh và ảnh hưởng vĩnh viễn tới đứa trẻ sau này.

4. Phòng ngừa thiếu máu khi mang thai

  • Bổ sung sắt dạng thuốc, thực phẩm bổ sung, thực phẩm với liều khuyến cáo (30mg/ngày).
  • Bổ sung axit folic liều 400mcg – 600mcg/ngày suốt từ khi chuẩn bị mang thai tới khi ngừng cho con bú.
  • Bổ sung vitamin B12 dạng viên hoặc bổ sung qua chế độ ăn. Nguồn dinh dưỡng nhiều B12 là các thực phẩm như trứng, thịt và sữa.
  • Bổ sung vitamin C cũng cần thiết cho quá trình hấp thu sắt. Thức ăn là nguồn cung cấp vitamin C lý tưởng. Tuy nhiên, vitamin C sẽ tan trong nước chứ không dự trữ lâu trong cơ thể. Nếu chọn phương pháp bổ sung vitamin C qua chế độ ăn, bạn nên đảm bảo ngày nào cũng có thực phẩm giàu vitamin C trong bữa ăn.
  • Tăng cường sắt qua chế độ ăn uống lành mạnh với nhiều loại thực phẩm giàu sắt. Thịt đỏ như thịt bò, thịt bê, thịt cừu là lựa chọn tốt nhất, nhưng thịt gia cầm cùng với các loại thịt khác và các loại sò, hến cũng là những nguồn cung cấp sắt dồi dào. Các loại thức ăn giàu sắt có nguồn gốc thực vật bao gồm đậu, đậu hũ, nho khô, chà là, mận khô, mơ, khoai tây nguyên vỏ, bông cải, củ cải đường, các loại rau xanh, bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt, các loại hạt và các loại ngũ cốc tăng cường sắt.
  • Nếu người mẹ thiếu máu nặng, có thể bổ sung sắt bằng cách tiêm hoặc đôi khi phải truyền máu, nhưng phải có chỉ định của bác sỹ. Phụ nữ trước khi mang thai bị thiếu máu nặng thường được khuyên là không nên mang thai để tránh các biến chứng phức tạp cho mẹ và bé cho tới khi bổ sung đầy đủ cho cơ thể.

Mọi thắc mắc các bạn có thể đặt câu hỏi bác sĩ, phòng khám và bệnh viện trên nền tảng bcare.vn để được giải đáp

Đặt lịch khám bác sĩ, phòng khám, bệnh viện trên Bcare