Sự kiện nóng: Sốt xuất huyêt

Phác đồ gây mê dạ dày đầy

08/06/2021
Phác đồ gây mê dạ dày đầy

Một trong những nguy cơ gây mê khi bệnh nhân không chuẩn bị để phẫu thuật là gây mê dạ dày đầy. Khi khởi mê, thanh quản không còn phản xạ có thể khiến bệnh nhân hít dịch dạ dày trào ngược qua thực quản hiện tượng này được gọi là viêm phổi hít.

1. Tỷ lệ tỷ vọng của viêm phổi hít nặng

Viêm phổi hít nặng có nguy cơ gây tử vong nếu pH dịch dạ dày < 2.5. Trong trường hợp hít phải thức ăn đặc sẽ gây tắc đường thở hoàn toàn.

Nhìn chung, nguy cơ hít phải chất nôn từ dạ dày tăng từ 1/3.900 lên 1/9.000 trong các phẫu thuật cấp cứu. Tỷ lệ tử vong sau hít sặc phổi là 3 - 5%.

2. Các giai đoạn có nguy cơ hít sặc

  • Khởi mê: Đây là thời gian sau khi người bệnh mất ý thức đến trước khi được bơm bóng chèn trên ống nội khí quản;
  • Trong lúc mổ: Nguyên nhân là do trào ngược thụ động, thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi và trẻ nhỏ;
  • Hậu phẫu: Do bất thường của hầu và thanh quản nếu rút ống quá sớm.

3. Yếu tố nguy cơ dẫn đến hít sặc Phác đồ gây mê dạ dày đầy - ảnh 1

Người Béo phì hoặc mắc bệnh tiểu đường sẽ làm trống dạ dày diễn ra chậm hơn

Bình thường dạ dày sẽ trống sau 2 giờ khi uống nước lọc và 6 giờ sau khi ăn. Đối với trẻ nhũ nhi thì trống dạ dày 4 giờ sau khi bú sữa mẹ.

Sự làm trống dạ dày diễn ra chậm hơn ở những trường hợp sau đây:

  • Bệnh nhân bị chấn thương;
  • Người mắc bệnh tiểu đường hoặc béo phì;
  • Sử dụng thuốc Morphin tổng hợp;
  • Viêm phúc mạc do một số nguyên nhân khác nhau;
  • Liệt ruột sau mổ do rối loạn chuyển hóa hoặc các thuốc kháng cholin;
  • Tắc ruột;
  • Ung thư dạ dày gây hẹp môn vị;
  • Sốc vì nhiều nguyên nhân;
  • Tâm trạng lo lắng;
  • Phụ nữ Mang thai 3 tháng cuối;
  • Có cơn đau chuyển dạ;
  • Người bị thoát vị cơ hoành;
  • Bệnh nhân vừa mới ăn hoặc uống.

4. Thủ thuật Sellick gây mê dạ dày đầy Phác đồ gây mê dạ dày đầy - ảnh 2

Thủ thuật Sellick hay còn gọi là kỹ thuật ấn sụn nhẫn

Kỹ thuật ấn sụn nhẫn, hay còn gọi là thủ thuật Sellick, tạo ra một sự đè ép duy trì lên sụn nhẫn. Các bước cụ thể như sau:

  • Thực hiện sau khi bệnh nhân mất hết tri giác;
  • Khi cổ duỗi tối đa, dùng ngón cái và ngón giữa giữ sụn nhẫn;
  • Ngón trỏ ấn nhẹ nhàng lên sụn nhẫn với một lực khoảng 30N;
  • Đè thực quản lên cột sống cổ liên tục đến khi bơm bóng chèn và âm phế bào nghe đều ở hai phế trường;
  • Đặc biệt trong thời gian này không được bóp bóng giúp thở.

Mục đích của thủ thuật Sellick là giúp ngăn ngừa trào ngược thụ động dịch dạ dày vào vùng hầu họng lúc ban đầu, cũng như nhìn dây thanh âm rõ hơn bởi đẩy chúng ra sau. Tuy nhiên, kỹ thuật này không ngăn chặn được tình trạng nôn mửa của bệnh nhân. Do đó trong trường hợp bệnh nhân nôn thì ngưng ngay việc ấn sụn nhẫn và phải hút sạch vùng hầu họng. Áp lực cao khi bệnh nhân đang nôn có thể gây tổn thương thực quản.

Chống chỉ định thủ thuật Sellick trong trường hợp bệnh nhân bị Chấn thương cột sống cổ.

5. Các thuốc ngừa hít sặc

5.1 Antacid

Là thuốc kháng acid, có tác dụng trung hòa axit dịch vị. Thuốc được sử dụng trong điều trị, kiểm soát và phòng ngừa các bệnh của đường tiêu hóa như: Ợ nóng, đầy hơi, chướng bụng, trào ngược dạ dày - thực quản, khó tiêu, viêm Loét dạ dày - tá tràng, ...

5.2 Thuốc đối kháng các thụ cảm thể H2

Cimetidine hoặc Ranitidine 300mg uống với 30ml nước vào đêm trước mổ và sáng ngày mổ. Thời gian thuốc bắt đầu tác dụng là từ 45 - 60 phút và kéo dài hiệu quả trong 10 giờ. Ngoài ra cũng có thể kết hợp cimetidin 400mg và thuốc kháng acid để tăng nhanh thời gian bắt đầu tác dụng.

5.3 Thuốc làm trống dạ dày

Nếu dùng Erythromycin 100mg thì thời gian thuốc bắt đầu tác dụng sau khoảng 30 phút. Tuy nhiên có thể gây đau bụng và nôn mửa, mất ý thức hoặc ức chế hô hấp sau mổ (khi kết hợp với midazolam và Fentanyl).

6.Phác đồ gây mê dạ dày đầy Phác đồ gây mê dạ dày đầy - ảnh 3

Thuốc Thiopental là 1 trong 3 loại thuốc sử dụng dẫn mê

Gồm 4 bước: Chuẩn bị, Khởi mê, Duy trì mê và Hồi tỉnh.

6.1. Chuẩn bị

Nguy cơ trào ngược dịch vị và tiên lượng đặt nội khí quản khó hay không;

  • Đảm bảo đường truyền tĩnh mạch;
  • Cho bệnh nhân nằm tư thế đầu thấp hơn bàn chân;
  • Đặt sonde dạ dày và hút dịch;
  • Kiểm tra hoạt động của máy hút;
  • Ekip sẵn sàng bên cạnh bệnh nhân;
  • Không bóp bóng bằng tay;
  • Thở oxy 100% qua mask.

6.2. Khởi mê

  • Dẫn mê: Dùng 1 trong 3 thuốc Thiopental, propofol hoặc Etomidate và tiến hành thủ thuật Sellick;
  • Giãn cơ: Dùng các thuốc có thời gian tiềm phục ngắn, có thể sử dụng 1 trong 2 thuốc Succinylcholine (thích hợp nhất) hoặc Rocuronium (khi không có yếu tố đặt nội khí quản khó);
  • Một số cách khác: Tiêm 1 liều mồi nhỏ dãn cơ không khử cực ngay trước khi tiêm thuốc mê, hoặc đặt nội khí quản với ống nội soi mềm trong trường hợp đặt nội khí quản khó.

6.3. Duy trì mê

Tương tự như quy trình gây mê trong các loại phẫu thuật khác.

6.4. Hồi tỉnh

  • Hút sạch dịch tiết trong nội khí quản;
  • Hút và dẫn lưu sonde dạ dày;
  • Cho bệnh nhân thở oxy qua ống nội khí quản;
  • Rút nội khí quản khi đạt tiêu chuẩn;
  • Chuyển bệnh nhân khỏi phòng hồi tỉnh 2 giờ sau khi rút nội khí quản nếu không có dấu hiệu suy hô hấp, SpO2 > 90% và không có dấu hiệu đặc biệt trên X quang.

7.Tiêu chuẩn rút nội khí quản Phác đồ gây mê dạ dày đầy - ảnh 4

Khi bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo thì có thể rút nội khí quản

7.1. Tiêu chuẩn lâm sàng chung

  • Vấn đề phẫu thuật đã giải quyết xong;
  • Bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo, thực hiện được các động tác đơn giản;
  • Ổn định các chức năng sống;
  • Có phản xạ nuốt và phản xạ Ho khi hút đàm;
  • Nâng đầu lên và giữ được ít nhất 5 giây.

7.2. Tiêu chuẩn về hô hấp

  • Không khó thở hay rối loạn hô hấp;
  • Nghe phổi bình thường, đối xứng;
  • Các chỉ số về tần số hô hấp, thông khí phút, PaCO2, pH, dung tích sống và lực hô hấp đều ổn định.