Mù đêm

Những người bị chứng quáng gà (mù đêm) không thể nhìn thấy trong ánh sáng mờ hoặc tối
Mù đêm - Ảnh minh họa 1
Mù đêm - Ảnh minh họa 2
Mù đêm - Ảnh minh họa 3
Mù đêm - Ảnh minh họa 4
Mù đêm - Ảnh minh họa 5

Tên gọi khác: Thoái hóa sắc tố võng mạc

Triệu chứng

Các triệu chứng bao gồm khó nhìn vào ban đêm, khó nhìn trong ánh sáng mờ và khó điều chỉnh thị lực khi ánh sáng thay đổi.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử và khám thực thể bao gồm khám mắt bằng đèn khe và các xét nghiệm đặc biệt khác.

Điều trị

Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, có thể bao gồm việc đeo kính theo toa, dùng thuốc (thường là bệnh tăng nhãn áp) hoặc phẫu thuật.

Tổng quan

Mù đêm hay Thoái hóa sắc tố võng mạc là gì?

Những người bị chứng quáng gà (mù đêm) không thể nhìn thấy trong ánh sáng mờ hoặc tối. Quáng gà có thể do thiếu vitamin A, thiếu kẽm hoặc nghiêm trọng hơn là do viêm võng mạc sắc tố. Các nguyên nhân khác bao gồm đục thủy tinh thể, Tăng nhãn áp và bệnh võng mạc tiểu đường.

Triệu chứng

Các triệu chứng bao gồm khó nhìn vào ban đêm, khó nhìn trong ánh sáng mờ và khó điều chỉnh thị lực khi ánh sáng thay đổi.

Chẩn đoán

  • Hỏi bệnh sử và khám thực thể bao gồm khám Mắt bằng đèn khe và các Xét nghiệm đặc biệt khác.

  • Kiểm tra bảng chuyển hóa cơ bản (BMP) và xét nghiệm Hemoglobin A1c (HbA1c) (kiểm tra đường huyết).

  • Kiểm tra bổ sung có thể được yêu cầu.

Điều trị

Điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, có thể bao gồm việc đeo kính theo toa, dùng thuốc (thường là bệnh tăng nhãn áp) hoặc phẫu thuật.

Nguyên nhân

"Quáng gà" là cách gọi dân gian mô tả tình trạng về chiều tối mắt nhìn không thấy rõ, giống như con gà hơi chạng vạng về chiều đã phải lo về chuồng vì không nhìn rõ đường, do đó, gọi là quáng gà. Đây là bệnh thoái hóa sắc tố võng mạc. Thực tế thoái hóa sắc tố võng mạc không phải là một bệnh mà là một nhóm các bệnh có tính di truyền được biểu hiện bằng triệu chứng nhìn kém trong điều kiện ánh sáng yếu. Vùng nhìn của người bệnh thu hẹp dần và xuất hiện các đám sắc tố hình tế bào xương ở võng mạc khi thăm khám đáy mắt.

Tỷ lệ mắc bệnh thoái hóa sắc tố võng mạc trong dân cư ở Mỹ là 1/4.000. Phương thức di truyền của bệnh có thể theo các kiểu di truyền trội, di truyền lặn, di truyền lặn có liên quan với giới tính.

Trong số đó, di truyền trội chiếm 20%, di truyền lặn liên kết với giới tính gần 10%, còn lại là di truyền lặn và các trường hợp mắc bệnh đơn lẻ di truyền trội do đột biến mới xảy ra.

Phòng ngừa

Có nhiều nguyên nhân gây ra quáng gà trong đó phải kể đến bệnh lý liên quan đến gen di truyền như bệnh võng mạc sắc tố, bệnh lý của thần kinh thị giác, nhiễm độc thuốc và tình trạng thiếu vitamin A. Trong đó, nguyên nhân do thiếu vitamin A là phổ biến nhất. Khi bệnh nhân có biểu hiện bị quáng gà, nếu điều trị thử bằng vitamin A mà bệnh nhân hết quáng gà thì nguyên nhân chính gây ra quáng gà là do thiếu vitamin A.

Thiếu vitamin A thường gặp ở trẻ em, nhất là ở những trẻ dưới 3 tuổi. Nguyên nhân là do khẩu phần ăn thiếu vitamin A, trẻ bị suy dinh dưỡng nặng, trẻ mắc các bệnh đường tiêu hóa gan mật như tiêu chảy, viêm gan, sau khi mắc bệnh sởi… hoặc do trẻ lớn quá nhanh trong khi lượng vitamin A cung cấp cho cơ thể thiếu nghiêm trọng. Ngoài triệu chứng quáng gà, trẻ thiếu vitamin A còn bị khô da, tóc khô giòn dễ rụng.

Điều trị

  • Tùy theo nguyên nhân gây ra bệnh quáng gà mà có phương pháp điều trị cụ thể, trường hợp quáng gà do thiếu vitamin A sẽ được bổ sung bằng vitamin A liều cao. Tuy nhiên để được chẩn đoán chính xác tình trang bệnh lý và nguyên nhân gây bệnh, khi có biểu hiện quáng gà, chúng ta cần phải đến khám ngay ở các cơ sở y tế chuyên khoa mắt để được điều trị đúng và kịp thời.

  • Ngoài các nguyên nhân do di truyền, quáng gà do thiếu vitamin A hoàn toàn có thể phòng tránh bằng chế độ dinh dưỡng giàu vitamin A.

    • Với các sản phụ đang mang thai cần bổ sung các loại thức ăn có nhiều vitamin A hoặc tiền chất của vitamin A như trứng, gan, các loại rau xanh, rau củ quả như cà rốt, cà chua…

    • Với những trẻ không được bú mẹ hoặc đã cai sữa nên ăn dặm thêm các chất có chứa vitamin A.

    • Tích cực phòng tránh và chữa trị kịp thời các bệnh mạn tính mà trẻ mắc phải như bệnh đường tiêu hóa, hô hấp, sởi… và sớm bổ sung thêm thức ăn có chứa vitamin A. Đồng thời đưa trẻ đi uống vitamin A định kỳ theo chương trình quốc gia phòng chống mù lòa do thiếu vitamin A.