Sự kiện nóng: Sốt xuất huyêt

Thống kê tỷ lệ sống sót ung thư vú HER2 dương tính

16/04/2021
Thống kê tỷ lệ sống sót ung thư vú HER2 dương tính

Người bệnh ung thư vú dương tính với HER2 có tiên lượng sống thấp và khả năng tái phát cao. Để điều trị bệnh dứt điểm, người bệnh nên thăm khám sớm nếu như phát hiện cơ thể xuất hiện dấu hiệu bất thường. Trường hợp phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn, thì quá trình điều trị nhằm giúp giảm triệu chứng và kéo dài tiên lượng sống cho bệnh nhân.

1. Ung thư vú dương tính HER2

Ung thư vú không phải là một bệnh duy nhất. Nó thực sự là một nhóm các bệnh. Khi được chẩn đoán ung thư vú, một trong những bước đầu tiên là xác định loại ung thư vú mắc phải. Loại ung thư vú sẽ cung cấp thông tin chính về cách điều trị bệnh được tiến hành ở các bước tiếp theo.

Khi sinh thiết vú, mô được kiểm tra các thụ thể hormone (HR). Mô này cũng được kiểm tra yếu tố HER2 (yếu tố thụ thể tăng trưởng biểu bì 2). Bởi vì yếu tố này có thể là tham gia vào sự phát triển của ung thư vú.

Trong một số báo cáo bệnh lý, HER2 được gọi là ERB2 (tyrosine kinase 2 thụ thể Erb-B2). Các thụ thể hormone này được xác định là Estrogen (ER) và progesterone (PR).

Gen tạo HER2 tạo ra protein HER2 hoặc các thụ thể. Những thụ thể này giúp kiểm soát sự phát triển và sửa chữa các tế bào vú. Sự biểu hiện quá mức của protein HER2 gây sự sinh sản ngoài tầm kiểm soát của các tế bào vú.

Ung thư vú dương tính với HER2 có xu hướng xâm lấn mạnh hơn so với các loại ung thư vú khác. Cùng với loại khối u và giai đoạn ung thư, tình trạng HR và HER2 sẽ giúp bác sĩ chuyên khoa có thể xác định được phương pháp điều trị hiệu quả.

2. Tỷ lệ sống sót ung thư vú HER2 dương tính 

Tại thời điểm này, chưa có nghiên cứu cụ thể về tỷ lệ sống sót đối với ung thư vú dương tính với HER2. Các nghiên cứu hiện tại về tỷ lệ sống sót ung thư áp dụng cho tất cả các loại ung thư vú.

Thống kê Sốt sót lâu dài dựa trên những người được chẩn đoán nhiều năm trước, nhưng việc điều trị đang thay đổi với tốc độ nhanh chóng cho nên tỷ lệ thống kê cũng chưa được cập nhật kịp thời.

Khi xem xét sự phát triển của ung thư bác sĩ sẽ phân tích nhiều yếu tố trong số đó bao gồm:

  • Giai đoạn chẩn đoán: Nếu như ung thư vú chưa lan ra bên ngoài hoặc chỉ lan ra theo vùng điều trị thì quá trình điều trị sẽ thuận lợi. Ngược lại khi ung thư vú di căn, tức là ung thư đã lan đến các vị trí xa hơn đồng thời lúc này quá trình điều trị sẽ khó khăn hơn nhiều.
  • Kích thước và mức độ của khối u nguyên phát: Điều này cho thấy mức độ xâm lấn của ung thư.
  • Liên quan đến hạch bạch huyết. Ung thư có thể lây lan từ các bạch huyết đến các cơ quan và các mô ở xa khu vực ung thư.
  • Tình trạng HR và HER2: Các xét nghiệm mục tiêu có thể được sử dụng kiểm tra xem ung thư vú dương tính với HR/HER2 hay không.
  • Sức khoẻ tổng thể: Các vấn đề sức khoẻ khác cũng sẽ là yếu tố có thể làm phức tạp hóa việc điều trị.
  • Đáp ứng với trị liệu: Thật khó để dự đoán liệu pháp cụ thể nào sẽ có hiệu quả hay tạo ra các tác dụng phụ gây ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
  • Tuổi: Phụ nữ trẻ tuổi và những người trên 60 tuổi có xu hướng bệnh xấu hơn so với phụ nữ trung niên, ngoại trừ những người bị ung thư vú ở giai đoạn 3.

Tại Hoa Kỳ, ước tính có khoảng hơn 41000 phụ nữ chết vì ung thư vú vào năm 2019.

3. Tỷ lệ mắc ung thư vú dương tính với HER2 

Khoảng 12% phụ nữ ở Hoa Kỳ đã phát triển bệnh ung thư vú xâm lấn tại một số thời điểm. Bất cứ ai, ngay cả nam giới, đều có thể mắc ung thư vú dương tính với HER2. Tuy nhiên, bệnh có nhiều khả năng ảnh hưởng đến phụ nữ trẻ tuổi. Khoảng 25% đối tượng mắc ung thư vú là ung thư vú dương tính với HER2.

4. Ung thư vú dương tính với HER2 có thể tái phát

Ung thư vú dương tính với HER2 xâm lấn nhiều hơn và khả năng tái phát cao hơn so với ung thư vú âm tính với HER2. Tái phát có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng nó thường diễn ra trong vòng 5 năm điều trị.

Tình trạng tái phát ít xảy ra phần lớn là do được sử dụng các phương pháp điều trị mục tiêu được mới nhất. Trên thực tế, hầu hết mọi người được điều trị ung thư vú dương tính với HER2 giai đoạn đầu đều bị tái phát.

Nếu ung thư vú cũng dương tính với HR, liệu pháp điều trị bằng hormone có thể giúp giảm nguy cơ tái phát.

 

5. Chẩn đoán quá mức HER2

 

Các thử nghiệm cho biểu hiện HER2 đã được cải thiện kể từ các nhà khoa học phát hiện ra gen và sự tiến bộ trong tiện ích lâm sàng của thông tin để đưa ra quyết định lâm sàng và điều trị. Có nhiều cách để đo biểu hiện gen đột biến gây ung thư HER2.

 

  • Khuếch đại gen HER2 bằng kỹ thuật lai tại chỗ (ISH) – Kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH), kỹ thuật lai tại chỗ có gắn chất màu (CISH), kỹ thuật lai tại chỗ tăng cường bạc (SISH), hoặc phản ứng chuỗi polymerase (PCR).
  • Biểu hiện quá mức sản phẩm protein HER2 – Western blotting, xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên kết với enzyme (ELISA), hoặc hóa mô miễn dịch (IHC).
  • Biểu hiện quá mức của RNA HER2 – Northern blotting hoặc đảo ngược phiên mã PCR (RT-PCR).

 

Một số tổ chức bệnh lý và ung thư lâm sàng đã được đề nghị thực hành tốt nhất để thử nghiệm biểu hiện HER2. Điều này ảnh hưởng đến quá trình điều trị cho bệnh nhân bởi lẽ việc lựa chọn liệu pháp rất khác nhau. Ngoài ra, bệnh nhân không nên bị tước đi lợi ích lớn trong các thử nghiệm Herceptin bổ trợ vì vấn đề vật mẫu hoặc xét nghiệm. Tất nhiên rằng ở quốc gia khác nhau trên thế giới, chi phí và tính khả dụng kiểm tra, chất lượng và tính thống nhất của các bài kiểm tra có thể khác nhau. Chúng tôi may mắn được làm việc với các phòng thí nghiệm cung cấp thử nghiệm gen HER2 có uy tín và được cấp phép ở Singapore.

 

Sau khi quá trình chẩn đoán HER2 được thiết lập, liệu pháp điều trị nhắm HER2 sẽ được sử dụng. Xây dựng liệu pháp điều trị ung thư giai đoạn cao sẽ liên quan đến việc áp dụng các chất phụ trợ, tá dược dùng trong hóa trị như loại thuốc trastuzumab (Herceptin), lapatinib (Tykerb), pertuzumab (Perjeta), trastuzumab emtasine (T-DM1 hoặc Kadcyla) hoặc neratinib.

 

6. Phương pháp điều trị cho ung thư vú dương tính với HER2 

Phác đồ điều trị có thể bao gồm kết hợp các phương pháp điều trị như: phẫu thuật, xạ trị, hoá trị, điều trị mục tiêu. Phương pháp điều trị nội tiết tố có thể là một lựa chọn cho những người bị ung thư.

Phẫu thuật

Phương pháp này sẽ dựa vào kích thước, vị trí và số lượng khối u để xác định phẫu thuật bảo tồn vú hay phẫu thuật cắt bỏ vú và liệu có nên cắt bỏ các hạch bạch huyết.

Bức xạ

Xạ trị có thể nhắm vào bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại sau phẫu thuật. Nó cũng có thể được sử dụng để thu nhỏ khối u.

Hoá trị

Đây là phương pháp điều trị toàn thân. Các loại thuốc mạnh có thể tìm kiếm và tiêu diệt các tế bào ung thư ở bất cứ đâu trong cơ thể. Ung thư vú dương tính với HER2 thường đáp ứng tốt với phương pháp điều trị hoá trị.

Điều trị mục tiêu

Các phương pháp điều trị mục tiêu cho ung thư vú dương tính với HER2 bao gồm:

  • Trastuzumab (Herceptin): Nó sẽ giúp ngăn chặn các tế bào ung thư nhận tín hiệu hoá học thúc đẩy tăng trưởng. Nghiên cứu năm 2014 với hơn 4,000 phụ nữ cho thấy Trastuzumab (Herceptin) làm giảm đáng kể sự tái phát và cải thiện khả năng sống sót khi được thêm vào hoá trị trị liệu trong ung thư vú dương tính với HER2 ở giai đoạn đầu.
  • Phác đồ điều trị bao gồm Paclitaxel sau Doxorubicin và cyclophosphamide. Tỷ lệ sống sót sau 10 năm của phác đồ này tăng từ 75.2% chỉ với hoá trị liệu lên 84% khi bổ sung trastuzumab. Đồng thời tỷ lệ sống sót mà không tái phát cũng được cải thiện. Tỷ lệ sống sót sau 10 năm mà không mắc bệnh tăng từ 62.2% lên 73.7%.
  • Ado-trastuzumab emtansine (Kadcyla): Thuốc này kết hợp trastuzumab với một loại thuốc hóa trị liệu gọi là emtansine. Trastuzumab cung cấp emtansine trực tiếp đến các tế bào ung thư dương tính với HER2. Nó có tác dụng thu nhỏ khối u và kéo dài sự sống ở phụ nữ bị ung thư vú di căn.
  • Neratinib (Netlynx): Đây là phương pháp điều trị lâu năm được sử dụng trong giai đoạn đầu của bệnh ung thư vú dương tính với HER2. Nó được áp dụng cho những người đã hoàn thành phác đồ điều trị bao gồm trastuzumab. Chức năng của neratinib giúp làm giảm khả năng tái phát.
  • Pertuzumab (Perjeta): Nó cũng là một loại thuốc hoạt động giống như trastuzumab. Tuy nhiên, nó gắn vào một phần khác của protein HER2.
  • Lapatinib (Tykerb): Lapatinib ngăn chặn các protein gây ra sự tăng trưởng tế bào không kiểm soát. Nó có thể giúp trì hoãn sự tiến triển của bệnh khi ung thư vú di căn trở nên kháng trastuzumab.

Các phác đồ điều trị mục tiêu thường hoạt động từ bên ngoài tế bào để ngăn chặn các tín hiệu hoá học thúc đẩy sự phát của khối u.

Sau điều trị ung thư vú vẫn cần xét nghiệm định kỳ để phát hiện xem có dấu hiệu tái phát không. Hầu hết các tác dụng phụ sau điều trị sẽ cải thiện theo thời gian, nhưng một số tác dụng phụ có thể tồn tại vĩnh viễn (chẳng hạn liên quan đến vấn đề sinh sản).

Ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến ở nữ giới. Nếu phát hiện ung thư vú chậm trễ, việc chữa trị bệnh sẽ khó khăn hơn với việc phát hiện sớm rất nhiều. Do đó với các đối tượng có nguy cơ cần sớm tầm soát ung thư vú để nâng cao cơ hội khỏi bệnh và hạn chế tái phát.