Malignant otitis externa

Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiễm trùng, bệnh da (chàm hay tăng tiết bã nhờn), nấm, sự kích thích thường xuyên (ngoáy tai)
Malignant otitis externa - Ảnh minh họa 1
Malignant otitis externa - Ảnh minh họa 2
Malignant otitis externa - Ảnh minh họa 3
Malignant otitis externa - Ảnh minh họa 4
Malignant otitis externa - Ảnh minh họa 5

Tên gọi khác: Viêm tai ngoài ác tính có thể

Triệu chứng

Có hiện tượng ống tai rỉ máu, đặc biệt là khi được hút nhẹ các tiết dịch ra; Đau tai dữ dội nhất là về đêm; Sờ vào vành tai gây đau nhiều; Nghe kém hoặc ù tai

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Các xét nghiệm và hình ảnh có thể là cần thiết để xác định chẩn đoán

Điều trị

Điều trị chung nhất gồm thuốc kháng sinh nhỏ tai (Cortisporin, Volsol, Cipro) có hay không có kèm kháng sinh uống

Tổng quan

Malignant otitis externa hay Viêm tai ngoài ác tính có thể là bệnh gì?

Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiễm trùng, bệnh da (chàm hay tăng tiết bã nhờn), nấm, sự kích thích thường xuyên (ngoáy tai), dị ứng, chảy mủ mạn từ tai giữa, u (hiếm), hay có thể đơn thuần sau một thói quen như thường xuyên cào gãi tai. Hiện tượng bị Chàm ở ống tai, sau đó có dịch đen chảy là biểu hiện nhiễm nấm kèm theo.

Triệu chứng

Có hiện tượng ống tai rỉ máu, đặc biệt là khi được hút nhẹ các tiết dịch ra; Đau tai dữ dội nhất là về đêm; Sờ vào vành tai gây đau nhiều; Nghe kém hoặc ù tai; Nổi hạch lympho ở cổ, cứng hàm do Viêm khớp thái dương hàm hoặc kích thích cơ nhai.

Chẩn đoán

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Các Xét nghiệm và hình ảnh có thể là cần thiết để xác định chẩn đoán. Xét nghiệm máu toàn bộ (CBC), chụp cắt lớp vi tính (CT Scan), chụp cộng hưởng từ (MRI), nuôi cấy dịch tai.

Điều trị

Điều trị chung nhất gồm thuốc kháng sinh nhỏ tai (Cortisporin, Volsol, Cipro) có hay không có kèm kháng sinh uống. Những loại thuốc này nên dùng trực tiếp. Trong một vài trường hợp, một miếng bấc được đặt vào trong ống tai để giữ tai luôn mở và giữ kháng sinh duy trì trong ống tai lâu hơn. Định kì hay thường xuyên hút dịch giúp ống tai luôn thoáng, lấy những mô chết và làm giảm số lượng vi khuẩn.

Nguyên nhân

Viêm tai ngoài ác tính có thể là do nhiễm trùng, bệnh da (chàm hay tăng tiết bã nhờn), nấm, sự kích thích thường xuyên (ngoáy tai), dị ứng, chảy mủ mạn từ tai giữa, u (hiếm), hay có thể đơn thuần sau một thói quen như thường xuyên cào gãi tai. Hiện tượng bị chàm ở ống tai, sau đó có dịch đen chảy là biểu hiện nhiễm nấm kèm theo.

Những phương pháp chuẩn trong điều trị và dự phòng thường điều trị tất cả viêm tai ngoài cấp và viêm tai ngoài ác tính. Tuy nhiên, ở những người bệnh đái tháo đường hay suy giảm miễn dịch, viêm tai ngoài mạn có thể rất nặng (viêm tai ngoài ác tính).

Phòng ngừa

Viêm tai ngoài ác tính phát triển từ ngoài vào trong gây viêm tế bào, viêm xương và có thể làm liệt các dây thần kinh sọ, thậm chí có thể gây tử vong khi quá trình viêm lan tới lớp màng trong của não. Có rất nhiều người thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ này, đặc biệt là những người bị đái tháo đường, nhiễm HIV hoặc người già suy nhược… Tác nhân gây bệnh sẽ len lỏi vào cơ thể từ vết rách da ở ống tai ngoài, thậm chí chỉ là những vết thương do rửa tai, ngoáy tai…

Tác nhân gây bệnh viêm tai ngoài ác tính chủ yếu là vi khuẩn làm mủ xanh Pseudomonas Aeruginosa. Có thể hình dung quá trình hình thành bệnh một cách đơn giản: Da ngoài tai bị tổn thương dẫn đến viêm tế bào rồi viêm sụn ở vùng lân cận, tiếp đến viêm các xương nhĩ (các xương búa, đe, bàn đạp ở sát màng nhĩ).

Nếu không được điều trị phù hợp, tình trạng viêm nhiễm sẽ lan tới xương thái dương và các vùng gần đó như khớp thái dương hàm, tuyến nước bọt, các mô ở vùng dưới thái dương.

Nếu bị viêm tuyến nước bọt, bạn có thể dễ dàng nhận biết bởi một số dấu hiệu như tuyến nước bọt sưng to, lan xuống má phía dưới, lan lên trên, đẩy dái tai lên cao. Bệnh sẽ tiếp tục lan tới phía đáy của xương sọ, làm liệt liên tiếp các dây thần kinh sọ, theo thứ tự phân bố từ ngoài vào trong: Trước tiên là dây thần kinh VII (thần kinh mặt), sau đó lần lượt đến các dây thần kinh hỗn hợp (vừa cảm giác vừa vận động): Dây IX (thần kinh thiệt hầu), dây X (thần kinh phế vị), dây XI (thần kinh phụ) gây ra hiện tượng khó phát âm, rối loạn nuốt; tiếp đến liệt dây XII (thần kinh hạ thiệt) khiến lưỡi bị lệch về phía bên tai đau.

Điều trị

  • Giảm tiếp xúc với nước: Nếu bạn dễ bị nhiễm trùng, chuyên gia sẽ cho bạn lời khuyên nên sử dụng bấc tai khi tắm hay bơi. Nhỏ cồn (dung dịch thường dùng sau khi bơi) sau khi tiếp xúc với nước hoặc làm khô tai với máy sấy tóc đặt cách tai khoảng một cánh tay giúp tai luôn khô ráo.

  • Đừng đưa bất cứ dụng cụ nào vào tai hay ngoáy tai hay gãi tai.

  • Giữ tai sạch sẽ, không có ráy tai: Đến bác sĩ đều đặn để làm sạch tai hoặc dùng những dụng cụ có kích thước phù hợp để lấy ráy tai.

  • Nếu đã bị nhiễm trùng tai hay bị thủng màng nhĩ hoặc nếu đã từng phẫu thuật tai và có đặt ống trong tai, bạn nên tham vấn bác sĩ trước khi bơi hay trước khi dùng bất cứ loại thuốc nhỏ nào.

  • Có thể dự phòng bằng dung dịch cồn và giấm trắng với tỉ lệ bằng nhau (50:50). Dung dịch này làm tăng sự bốc hơi của nước trong ống tai và có tính chất kháng khuẩn.

  • Nhỏ dầu khoáng có thể giúp bảo vệ tai khỏi nước khi da bị khô dầy sừng.