Prolapsus rectal

Trực tràng là phần cuối cùng của ruột già bám vào hậu môn. Thường trực tràng được gắn bên trong cơ thể bởi các dây chằng và cơ bắp
Prolapsus rectal - Ảnh minh họa 1
Prolapsus rectal - Ảnh minh họa 2
Prolapsus rectal - Ảnh minh họa 3
Prolapsus rectal - Ảnh minh họa 4

Tên gọi khác: Rectal prolapse, Sa hậu môn

Triệu chứng

Sa trực tràng thường gặp ở người già và phụ nữ.

Chẩn đoán

Khối sa ở hậu môn

Điều trị

Hỏi bệnh sử và khám thực thể.

Tổng quan

Rectal prolapse, Prolapsus rectal hay Sa hậu môn là bệnh gì?

Trực tràng là phần cuối cùng của ruột già bám vào hậu môn. Thường trực tràng được gắn bên trong cơ thể bởi các dây chằng và cơ bắp. Sa trực tràng là bệnh được gây nên bởi trực tràng chui qua lỗ hậu môn ra nằm ở ngoài hậu môn. Đoạn ruột chui ra ngoài bao gồm tất cả các lớp của thành trực tràng hay chỉ có niêm mạc trực tràng, cả trực tràng và hậu môn hay chỉ có trực tràng hoặc chỉ có hậu môn sa ra ngoài.

Triệu chứng

  • Sa trực tràng thường gặp ở người già và phụ nữ.

  • Nguyên nhân có thể là do Táo bón kinh niên, sinh con, và các rối loạn khác.

Chẩn đoán

  • Khối sa ở hậu môn

  • Đại tiện ra máu

Điều trị

  • Hỏi bệnh sử và khám thực thể.

  • Các Xét nghiệm có thể bình thường vì khối sa trực tràng có thể tự biến mất.

Nguyên nhân

Sa trực tràng là bệnh được gây nên bởi trực tràng chui qua lỗ hậu môn ra nằm ở ngoài hậu môn. Đoạn ruột chui ra ngoài bao gồm tất cả các lớp của thành trực tràng hay chỉ có niêm mạc trực tràng, cả trực tràng và hậu môn hay chỉ có trực tràng hoặc chỉ có hậu môn sa ra ngoài.

Ở người lớn, bệnh sa trực tràng không nhiều. Trong 6 năm, từ 5/1967 đến 4/1973, Bệnh viện Việt Đức - Hà Nội có 12 trường hợp. Trong thời gian 3 - 5 năm, từ 5/1983 đến 9/1986, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh có 10 trường hợp.

Sa trực tràng là bệnh lành tính, không có biến chứng nặng nề và không có diễn biến phức tạp. Nhưng bệnh gây cho bệnh nhân nhiều phiền hà trong sinh hoạt và ảnh hưởng không ít tới năng suất lao động. Điều trị bệnh sa trực tràng là bằng phẫu thuật, với rất nhiều phương pháp mổ dựa trên nhiều nguyên lý khác nhau. Điều trị nội khoa cần thiết, nhưng chỉ góp một phần vào kết quả của điều trị. 

Phòng ngừa

Nguyên nhân giải phẫu:

  • Trực tràng không dính vào thành bụng sau nên có thể di động dễ dàng, trượt xuống dưới và sa ra ngoài (Pamberton và Stalker).

  • Túi cùng Douglas thấp. Khi áp lực ổ bụng tăng cao, sẽ đè vào thành trước trực tràng và dần dần đẩy trực tràng sa ra ngoài hậu môn.Túi cùng Douglas thấp là nguyên nhân của sa trực tràng phía trước (Moskowitz).

  • Đáy chậu khiếm khuyết.  Đáy chậu phát triển không tốt, hoành đáy chậu rộng, cơ nâng hậu môn và các cơ thắt hậu môn bị nhão làm cho thành trước trực tràng sa ra ngoài. Đã có nhiều công trình khảo sát trương lực của các cơ bằng điện cơ và bằng sinh thiết. Parks và Nell cho rằng trong sa trực tràng có hiện tượng của giảm áp lực của cơ thắt kể cả lúc nghỉ lẫn lúc co, giảm cảm giác trực tràng, mất phản xạ trực tràng - cơ thắt. Trạng thái của cơ thắt giống như khi thần kinh của chúng bị cắt đứt.

  • Thiếu độ cong xương cùng. Về cấu tạo giải phẫu, xương cùng có độ cong, trực tràng nằm tựa vào độ cong này. Khi xương cùng không có độ cong, trực tràng mất chỗ tựa.

  • Độ gấp góc bóng trực tràng - ống hậu môn không đủ. Bình thường chỗ nối giữa bóng trực tràng và ống hậu môn có độ gấp khúc, tạo nên một góc, thay đổi từ 80 đến 100 độ, mở ra phía sau. Khi độ gấp góc này giảm hay mất đi, sa trực tràng sẽ xuất hiện.

  • Van trực tràng kém phát triển. Các van Houston trên, giữa, dưới phát triển không tốt, giảm độ cản, trực tràng dễ sa xuống và tụt ra ngoài.

Nguyên nhân sinh hoạt:

  • Suy dinh dưỡng và thiếu vitamin B: Những bệnh nhi sa trực tràng do nguyên nhân này, nếu được nuôi dưỡng tốt, bệnh có thể khỏi, không cần phải can thiệp phẫu thuật.

  • Thiếu cân nặng do ăn uống không đầy đủ (Boulin).

  • Táo bón kinh niên: Những người bị táo bón, khi đại tiện phải rặn. Khi rặn áp lực ổ bụng tăng lên rất nhiều. Hơn 50% bệnh nhân sa trực tràng có chứng táo bón kinh niên (Malafosse).

  • Tiêu chảy: Khi bị tiêu chảy, mỗi ngày phải đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều. Sa trực tràng có thể khởi phát sau đợt tiêu chảy hoặc lỵ.

  • Ngồi bô: Ở các nhà trẻ, các cháu trẻ ngồi bô hàng loạt, đại tiện không đúng lúc có nhu cầu, sa trực tràng dễ xuất hiện.

Nguyên nhân chấn thương:

  • Sau các phẫu thuật sản phụ khoa. 25% số bệnh nhân sa trực tràng có tiền sử mổ các bệnh sản phụ khoa (Malafosse).

  • Tiền sử chấn thương vùng đáy chậu cũng được nhắc tới, nhưng số bệnh nhân thuộc loại này không nhiều.

Điều trị

  • Tránh táo bón thời gian dài: Uống nhiều nước, ăn nhiều hoa quả, rau xanh, bổ sung chất xơ, ăn ít đồ ăn nóng, dầu mỡ. Những thay đổi trong chế độ ăn uống thường đủ để cải thiện sa niêm mạc trực tràng (sa một phần).

  • Chữa tiêu chảy kéo dài.

  • Không rặn nhiều trong suốt quá trình đại tiện, ngồi đúng tư thế khi đi vệ sinh.