Sự kiện nóng: Sốt xuất huyêt

Yếu tố giúp thay đổi nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ

30/04/2021
Yếu tố giúp thay đổi nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ

Bệnh ung thư vú là một trong những bệnh lý nguy hiểm xuất hiện vô cùng phổ biến ở phụ nữ. Các chuyên gia đã chỉ ra rằng, nhiều yếu tố có thể làm thay đổi nguy cơ mắc ung thư vú. Vì vậy, chị em nên nắm rõ các yếu tố này để việc phòng ngừa bệnh được hiệu quả hơn.

1. Các yếu tố nguy cơ

Sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ mắc ung thư vú không có nghĩa là chắc chắn sẽ bị ung thư. Nhiều phụ nữ mang yếu tố nguy cơ nhưng không bao giờ phát triển ung thư vú. Thay vào đó, các yếu tố nguy cơ giúp xác định những phụ nữ có thể hưởng lợi nhiều nhất từ ​​sàng lọc hoặc các biện pháp phòng ngừa khác.

Điều quan trọng cần nhớ là ung thư vú cũng có thể xảy ra ở những phụ nữ không có yếu tố nguy cơ

  • Tuổi: Yếu tố nguy cơ chính gây ung thư vú ở hầu hết phụ nữ là tuổi. Tỷ lệ mắc ung thư vú tăng mạnh theo tuổi cho đến năm 45 - 50, sau thời điểm đó mức tăng ít hơn. Từ tuổi 75 đến 80, đồ thị biểu diễn tỷ lệ mắc bệnh đã nằm ngang và sau đó bắt đầu giảm.
  • Giới tính: Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và xảy ra phổ biến gấp 100 lần ở phụ nữ so với nam giới.
  • Chủng tộc / sắc tộc: Ở Hoa Kỳ, phụ nữ da trắng có tỷ lệ mắc ung thư vú cao nhất; cứ 100.000 phụ nữ thì có 124 trường hợp được chẩn đoán. Tỷ lệ ung thư vú thấp hơn ở phụ nữ da đen (113 trên 100.000), người Mỹ bản địa / thổ dân Alaska (92 trên 100.000) và phụ nữ gốc Tây Ban Nha (90 trên 100.000). Tỷ lệ này thấp nhất ở người Mỹ gốc Á / Người dân đảo Thái Bình Dương (82 trên 100.000).
  • Cân nặng: Tăng cân và Béo phì có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư vú sau mãn kinh, nhưng điều này lại không liên quan ở phụ nữ còn kinh nguyệt, mặc dù cơ chế của mối liên hệ này không rõ ràng.
  • Tầm vóc cao: Tầm vóc cao có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú.
  • Bệnh vú lành tính: Ngoài ung thư vú, phụ nữ có thể có các tổn thương bất thường khác tại vú . Những bất thường này có thể là sự phát triển quá mức của mô tuyến vú (còn được gọi là tổn thương tăng sinh) hoặc có thể sự tang sinh của mô sợi, giãn tuyến sữa hoặc hình thành nang (được gọi là tổn thương không tăng sinh). Phụ nữ có tiền sử tổn thương vú tăng sinh có nguy cơ mắc ung thư vú, đặc biệt nếu xuất hiện tế bào bất thường (tăng sản không điển hình).
  • Mật độ vú trên phim chup X-quang: Phụ nữ có hình chụp X-quang cho thấy nhiều vùng mô dày đặc có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn so với phụ nữ có hình ảnh tuyến vú nhiều mô mỡ.
  • Mật độ xương cao: Phụ nữ có đậm độ xương cao (bone mineral density - BMD) có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn. Xương chứa thụ thể estrogen và nhạy cảm với estrogen lưu thông. Do đó, BMD có thể phản ánh mức độ Estrogen lưu hành.
  • Tiền sử cá nhân bị ung thư vú: Phụ nữ có tiền sử ung thư ở một vú có nguy cơ phát triển ung thư ở vú còn lại. Nếu một phụ nữ có tiền sử ung thư biểu mô thể tại chỗ (DCIS), nguy cơ này là khoảng 5% trong 10 năm tiếp theo. Tuy nhiên, nếu là ung thư vú thể xâm lấn, nguy cơ là 1% mỗi năm đối với phụ nữ tiền mãn kinh và 0,5% mỗi năm đối với phụ nữ sau mãn kinh.
  • Tiền sử gia đình: Tiền sử gia đình là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh ung thư vú, đặc biệt trong gia đình có mẹ , chị em gái, con gái đã bị ung thư vú hoặc buồng trứng mặc dù tỷ lệ người bệnh thuộc nhóm này chỉ khoảng 20% phụ nữ mắc bệnh ung thư vú.
  • Bổ sung nội tiết tố khi đã mãn kinh: Sử dụng lâu dài kết hợp estrogen-proestin đường uống ở phụ nữ từ 50 đến 79 tuổi làm tăng nguy cơ ung thư vú cũng như bệnh tim, đột quỵ và cục máu đông ở chân. Ngược lại, nhiều nghiên cứu đã ghi nhận rằng thuốc tránh thai đường uống không liên quan rõ ràng với việc tăng nguy cơ ung thư vú.
  • Tuổi bắt đầu kinh nguyệt và thời kỳ mãn kinh: Cả hai tuổi trẻ hơn khi bắt đầu kinh nguyệt và tuổi muộn hơn khi bắt đầu mãn kinh đều làm tăng nguy cơ ung thư vú.
  • Mang thai và cho con bú: Một số nghiên cứu cho thấy những phụ nữ đã sinh con nhiều lần sẽ ít bị ung thư vú sau này hơn những phụ nữ chưa từng sinh con. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác cho thấy điều này chỉ đúng với những phụ nữ bắt đầu có con ở độ tuổi trước 35 tuổi. Cho con bú cũng đã được tìm thấy có liên quan đến giảm nguy cơ phát triển ung thư vú; nhất là những người có thời gian cho con bú dài hơn. Phá thai không liên quan đến nguy cơ ung thư vú.
  • Không hoạt động thể chất: Mặc dù không có bằng chứng trực tiếp cho thấy không hoạt động có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú, tập thể dục thể thao để bảo vệ chống ung thư vú ở cả phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh luôn được ủng hộ
  • Hút thuốc: Cả hút thuốc lá thụ động và chủ động đều có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư vú, đặc biệt là ở phụ nữ tiền mãn kinh. Nguy cơ này có liên quan đến việc tuổi hút thuốc sớm, thời gian dài hơn và / hoặc số năm hút thuốc cao hơn.
  • Rượu: Có một mối quan hệ đáng kể giữa tiêu thụ rượu và tăng nguy cơ ung thư vú, bắt đầu bằng việc uống rượu ở mức thấp nhất là ba ly mỗi tuần. Nguy cơ dường như tăng lên khi tiêu thụ rượu và phụ gia nhiều hơn với việc sử dụng liệu pháp hormone mãn kinh. Dường như không có sự khác biệt theo loại rượu .
  • Chế độ ăn kiêng: Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế độ ăn nhiều trái cây và rau quả dẫn đến nguy cơ ung thư vú thấp hơn. Không có ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ ăn nhiều ngũ cốc tinh chế, đồ ngọt và sữa giàu chất béo.
  • Tiêu thụ thịt đỏ: Ăn nhiều hơn năm khẩu phần thịt đỏ mỗi tuần có thể liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư vú ở giai đoạn tiền mãn kinh.
  • Canxi / vitamin D: Chế độ ăn ít canxi và vitamin D có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ tiền mãn kinh nhưng không phải ở phụ nữ sau mãn kinh. Tuy nhiên, một nghiên cứu về những phụ nữ bổ sung chế độ ăn uống bằng vitamin D và canxi không cho thấy sự khác biệt về số lượng phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú.
  • Chất chống oxy hóa: Không có bằng chứng về tác dụng của việc bổ sung vitamin A, E hoặc C hoặc Beta-carotene đối với nguy cơ ung thư vú.
  • Đậu nành là những chất thực vật tự nhiên có cấu trúc hóa học tương tự estrogen.

2. Các nhân tố môi trường

Phơi nhiễm với bức xạ ion hóa: Tiếp xúc với bức xạ ion hóa vùng ngực khi còn trẻ, như điều trị bệnh ung thư hạch hoặc trong những người sống sót sau bom nguyên tử hoặc tai nạn hạt nhân, có liên quan đến tăng nguy cơ ung thư vú.

Làm việc ca đêm: Làm việc ca đêm được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư và Tổ chức Y tế Thế giới công nhận là một chất gây ung thư có thể xảy ra. Phụ nữ làm việc vào ban đêm có nguy cơ mắc ung thư vú cao hơn so với những phụ nữ không làm ca đêm. Lý do chính cho việc này vẫn đang được nghiên cứu nhưng có thể được cho là có liên quan với hormone melatonin, thường được sản xuất vào ban đêm.

Các yếu tố khác: Dioxins và thuốc trừ sâu organochlorine như dichlorodiphenyltrichloroethane (DDT) đã được nghiên cứu. Các hợp chất này là estrogen yếu, lipophilic cao và có khả năng tồn tại trong các mô cơ thể trong nhiều năm. Tuy nhiên, mối liên quan với ung thư vú đã không được chứng minh. Ngoài ra, cấy ghép vú thẩm mỹ, trường điện từ, chăn điện và thuốc nhuộm tóc không liên quan đến nguy cơ ung thư vú.
 

3. Phân loại phụ nữ theo mức độ nguy cơ ung thư vú

Một số nghiên cứu tại Mỹ đã dùng tỷ lệ RR (relative risk) chia các mức độ từ 1.1 đến 4.0 để phân loại các mức độ cao, trung bình và tăng nguy cơ.

3.1 Mức độ cao (high-risk) RR>4.0

  • Phụ nữ trên 65 tuổi
  • Tăng sản tuyến vú không điển hình (được chứng minh qua sinh thiết)
  • Đột biến một số gene (BRCA1, BRCA2, TP53, ATM...)
  • Ung thư ống tuyến vú hoặc ung thư tiểu thùy tại chỗ
  • Tiền sử gia đình ung thư buồng trứng sớm (trước 50 tuổi)
  • Nhiều người họ hàng thế hệ 1 mắc ung thư vú
  • Xạ trị vùng ngực/vú trước 30 tuổi.
  • Tiền sử có ung thư vú sớm (trước 40 tuổi).

3.2 Mức độ trung bình (moderate-risk), RR từ 2.1 đến 4.0

  • Có nồng độ nội tiết estrogen nội sinh hoặc testosterone cao trong giai đoạn hậu mãn kinh
  • Mang thai đủ tháng lần đầu sau tuổi 35
  • Mô vú rất đặc (>50% trên nhũ ảnh)
  • Một người họ hàng thế hệ 1 mắc ung thư vú
  • Bệnh lý mô vú tăng sinh (như tăng sản ống tuyến vú không điển hình)
  • Một số đột biến di truyền (như gene CHEK2, PTEN).

3.3 Tăng nguy cơ (increased-risk), RR từ 1.1 – 2.0

  • Uống rượu, bia.
  • Mang thai đủ tháng lần đầu trong độ tuổi 30 – 35.
  • Mẹ dùng thuốc DES trong thai kỳ.
  • Mô vú đặc (25 – 50%)
  • Có một số bệnh lý vú lành tính: Bướu sợi tuyến vú (fibroadenoma), u nhú, sẹo xơ sau xạ trị
  • Mãn kinh muộn (sau 55 tuổi)
  • Tiền sử ung thư vú sau 40 tuổi hoặc có tiền sử các ung thư đại tràng, buồng trứng, tử cung.
  • Dùng liệu pháp hormon thay thế chứa estrogen và progestin...

3.4 Những yếu tố giúp giảm nguy cơ ung thư vú (RR < 1)

  • Chủng tộc người châu Á
  • Phụ nữ cho con bú
  • Mang thai lần đầu < 20 tuổi
  • Dùng Tamoxifen
  • Đã phẫu thuật vú giảm nguy cơ trước
  • Luyện tập thể dục thể thao...

4. Những lời khuyên dành cho phụ nữ

Thay đổi lối sống - Một số thay đổi lối sống có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú:

  • Lập kế hoạch cho lần sinh đầu tiên trước 30 tuổi.
  • Cho con bú ít nhất sáu tháng.
  • Tránh hoặc hạn chế thời gian sử dụng liệu pháp hormone mãn kinh.
  • Tránh hoặc cai thuốc lá.
  • Hạn chế uống rượu.
  • Duy trì cân nặng khỏe mạnh.
  • Hạn chế làm việc về đêm.
  • Áp dụng lối sống năng động. Điều này nên bao gồm ít nhất 150 phút hoạt động cường độ vừa phải hàng tuần, 75 phút hoạt động cường độ mạnh hàng tuần hoặc ít nhất là một số hoạt động thể chất trên thói quen thông thường của một người, ngoài việc hạn chế hành vi tĩnh tại.

Ngoài ra, Phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm được xem là chìa khóa trong điều trị thành công ung thư vú. Bởi bằng các biện pháp điều trị đặc hiệu như phẫu thuật, xạ trị, hóa chất và kết hợp với các phương pháp tiên tiến khác: liệu pháp nội tiết tố, sinh học (điều trị nhắm trúng đích), bệnh nhân ung thư vú có thể được cứu sống. Ung thư vú giai đoạn 1 thường có tỷ lệ sống cao (trên 5 năm) đạt 80-90%.